Hiển thị các bài đăng có nhãn Chim sách đỏ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chim sách đỏ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

Bồ nông chân xám


Tên Việt Nam:
Bồ nông chân xám
Tên Latin:
Pelecanus phillipensis
Họ:   Bồ nông Pelecanidae
Bộ:   Bồ nông Pelecaniformes  
Lớp (nhóm):   Chim   
Bồ nông chân xám
Đặc điểm nhận dạng:
Chim trưởng thành: Mùa hè lông trên cổ kéo dài thành mào lông màu nâu nhạt, các lông khác ở đầu và cổ màu trắng, gốc màu nâu. Lông bao cánh và cánh sơ cấp đen nhạt, lông vai, lông đuôi và lông cánh thứ cấp có màu nâu. Phần còn lại của Bộ lông màu trắng, phần cuối lưng, sườn và dưới đuôi phớt hồng tím. Mùa đông lông đầu, cổ và lưng có màu trắng, cánh và đuôi màu nâu.
Sinh học - Sinh thái:
Kiếm ăn ở các vùng đất ngập nước như hồ, sông và ven bờ biển đặc biệt tại các cửa sông. Mùa sinh sản từ tháng 1 - 4, đẻ trung bình 2 trứng, ấp 31 ngày.
Phân bố:
Trong nước: Nam Định (Cửa sông Hồng, cửa sông Đáy). Vùng duyên hải Thành phố Hồ Chí Minh, vùng ven bờ biển đồng bằng sông Cửu Long (Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang).
Thế giới: Ấn Độ, Mianma, Cămpuchia.
Giá trị:
Nguồn gen qúy có giá trị khoa học cao, màu lông và hình dáng đẹp hấp dẫn cho du lịch sinh thái.
Tình trạng:
Số lượng của loài này đã bị giảm sút nghiêm trọng. Nguyên nhân chính là do nơi kiếm ăn bị mất dần hoặc bị thu hẹp và bị nhiễu loạn nặng nề.
Biện pháp bảo vệ:
Hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng gây nhiễu loạn các bãi kiếm ăn của loài này ở các khu bảo tồn, bãi triều ở cửa sông Hồng, cửa sông Đáy,ven biển đồng bằng sông Cửu Long và đặc biệt là ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau kể cả ở Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp).

Sưu tầm Tien Nguyen  
 

Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2012

Bồ câu Nicobar - Caloenas nicobarica

Bồ câu Nicoba (tên khoa học: Caloenas nicobarica) là một loài chim thuộc họ Bồ câu Columbidae chủ yếu được tìm thấy tại khu vực Đông Nam Á. Đây là một loài chim rất quý hiếm, được tìm thấy lần đầu tiên tại những hòn đảo nhỏ của quần đảo Nicobar. Chúng là thành viên duy nhất còn tồn tại của chi Caloenas. Tuy nhiên hiện tại số lượng của loài chim quý này vốn đã không nhiều, những năm gần đây lại càng suy giảm nghiêm trọng do bị săn bắt làm chim cảnh và môi trường sống biến đổi, do đó loài này hiện đang phải đối diện với nguy cơ tuyệt chủng cao.
 
Đặc điểm hình thái:
Loài chim này có kích thước khá lớn trong họ Bồ câu, chiều dài cơ thể trung bình đạt 40 cm. Đầu có màu xám xanh, có các lông nhọn mọc quanh cổ với kích thước khác nhau. Bộ lông màu tối có ánh thép màu xanh lục và màu đồng tương phản với màu trắng của lông đuôi và dưới đuôi. Đuôi rất ngắn màu trắng sáng. Mắt nâu. Mỏ xám đen. Chân có màu đỏ sẫm. Chim mái hơi nhỏ hơn chim trống, mỏ cũng nhỏ hơn và những chiếc lông nhọn trên cổ cũng ngắn hơn và có màu nâu. Chim non có đuôi màu đen và bộ lông cũng không có ánh kim.
 
Khu vực phân bố:
Phân bố tại các đảo Nicobar, Andaman đến quần đảo Malaisia, Salomon, Timor, Philippine và Côn Đảo (Việt Nam)
 
Chế độ dinh dưỡng:
Thức ăn chủ yếu của chúng là các loại quả và hạt cây.
 
Mô tả chi tiết:
Loài chim đẹp và quý hiếm này thường chỉ sống và làm tổ trên các hòn đảo nhỏ ngoài biển, thường gặp tại những khu vực rừng vắng. Chúng kiếm ăn trên mặt đất, ít khi sinh hoạt trên cây. Bồ câu Nicobar thường sống đơn lẻ, theo cặp hoặc thành từng đàn nhỏ. Chúng thường làm tổ tập đoàn trên cùng một loại cây.
 
Sưu tầm Tien Nguyen

Chim công - Pavo muticus

Chim công hay (tên khoa học: Pavo muticus) là một loài chim thuộc họ Trĩ (Phasianidae) bộ Gà (Galliformes) sinh sống tại các khu rừng nhiệt đới thuộc Đông Nam Á và phía Nam Trung Quốc. Loài này có họ hàng gần gũi với loài Công Ấn Độ (Pavo cristatus). Loài chim này đôi khi còn gọi là Công Java, tuy nhiên thuật ngữ này không thật sự chính xác, nó chỉ nên dùng để chỉ một nhóm (phân loài) sinh sống tại đảo Java của Indonesia mà thôi. Khác với nhiều loài chim họ Trĩ, loài này bay rất tốt và có thể bay liên tục. Loài chim này cũng nổi tiếng với bộ lông đuôi tuyệt đẹp và những vũ điệu tán tỉnh kỳ thú. Tuy nhiên hiện nay do tình trạng săn bắt bừa bãi và sự biến mất của những khu vực sinh sống cho nên loài chim này đang đối diện với nguy cơ tuyệt chủng cao, chúng được xếp vào Danh sách đỏ của IUCN và được bảo vệ bởi công ước CITES.
Đặc điểm hình thái:
Chiều dài cơ thể của con chim công trống trưởng thành có thể đạt tới 1,8-3 m bao gồm cả phần đuôi dài từ 1,4-1,6 m và cân nặng khoảng 3,8-5 kg. Những con chim mái trưởng thành đạt khoảng một nửa chiều dài so với chim trống và có trọng lượng vào khoảng 1-1,2 kg. Sải cánh của loài chim này khá rộng, đạt khoảng 1,2 m đối với chim mái và 1,6 m đối với chim trống. Màu sắc của chúng khá sặc sỡ và đẹp mã, là sự kết hợp của nhiều gam màu nổi bật như là xanh lá cây, xanh lục bảo, xanh da trời, đen, vàng, tím... đặc biệt là ở những con công trống. Chúng nổi tiếng với phần đuôi dài có thể xòe rộng thành hình cánh quạt để phô ra những "con mắt" rất đẹp.
Khu vực phân bố:
Chim công phân bố rộng rãi tại khu vực Đông Nam Á bao gồm lãnh thổ các nước Lào, Thái Lan, Việt Nam, Cambodia, Malaysia và đảo Java (Indonesia), thậm chí trước đây chúng còn phổ biến cả ở Ấn Độ, bắc Myanmar và miền Nam Trung Quốc. Môi trường tự nhiên ưa thích của chúng bao gồm các khu rừng nhiệt đới, cận nhiệt đới cả nguyên sinh và thứ sinh, những khu rừng lá rụng, rừng tre nứa, thảo nguyên, vùng cây bụi và cả những khu vực canh tác của con người.
Chế độ dinh dưỡng:
Chế độ ăn uống của chim công bao gồm chủ yếu là trái cây, động vật không xương sống, bò sát, lưỡng cư và động vật có vú nhỏ. Thậm chí chúng còn có thể săn bắt và ăn thịt cả nhiều loài rắn độc.
Mô tả chi tiết:
Chim công thường làm tổ trên mặt đất. Mỗi lứa chim mẹ để từ 3-6 quả trứng. Chúng được cho là tồn tại chế độ đa thê, tuy nhiên những con chim trống lại thường sinh sống đơn độc và bảo vệ những con chim mái trong khu vực lãnh thổ của mình trước những con trống khác chứ không thực sự ghép đôi hoặc sinh sống thành đàn.

Kẻ thù trong tự nhiên của loài chim công bao gồm các loài mèo lớn như báo gấm, mèo cát, mèo rừng, hổ...
Mặc dù hiện nay loài chim biểu tượng của đất nước Myanmar được chọn là loài Sếu xám hoàng gia, tuy nhiên loài chim công trong quá khứ đã từng một thời gian dài là biểu tượng của các vị quân vương ở đất nước này. Chúng cũng xuất hiện thường xuyên trong văn hóa và nghệ thuật của nhiều quốc gia khác trong khu vực phân bố, nhất là trong hội họa và văn hóa dân gian.

Sưu tầm Tien Nguyen

Hạc cổ trắng

Tên Việt Nam:
Hạc cổ trắng
Tên Latin:
Ciconia episcopus episcopus
Họ:   Hạc Ciconiidae
Bộ:   Hạc Ciconiiformes  
Lớp (nhóm):   Chim  

 
Đặc điểm nhận dạng:
Con trưởng thành có màu đen ánh lục ở đỉnh đầu, cổ và sau lưng, dưới đuôi màu trắng. Phần còn lại của bộ lông có màu đen ánh đồng ở bao cánh, sau lưng và hông. Con non có bộ lông tương tự nhưng ở màu đen có ánh nâu được thay bằng màu thẫm, lông cổ hơi dài hơn. Mỏ màu đen, mép và chóp mỏ phớt đỏ, chân đỏ thẫm.
 
Sinh học - Sinh thái:
Nơi sống thích hợp nhất là ở các cánh đồng ngập nước, đầm lầy, vùng quanh các hồ lớn. Mùa sinh sản từ tháng 8 - 11 hàng năm, hay gặp làm tổ trong các rừng tràm ở đồng bằng sông Cửu Long. Mỗi lứa đẻ khoảng 3 - 5 trứng. Thức ăn là các loài động vật thuỷ sinh, chủ yếu là cá.
 
Phân bố:
Trong nước: Từ Nam Trung Bộ đến Nam Bộ.
Thế giới: Châu Phi, Ấn Độ, Pakixtan, Lào, Cămpuchia, Mianma, Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia, Philipin.
 
Giá trị:
Nguồn gen qúy, giá trị khoa học cao.
 
Tình trạng:
Số lượng đang bị giảm sút nghiêm trọng. Đến nay chỉ thỉnh thoảng gặp loài này ở vùng rừng tràm U Minh thuộc Đồng Tháp Mười, vùng Mã Đà (Đồng Nai), Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai) và một số trảng ngập nước ở rừng Tây Nguyên. Nguyên nhân chính là do mất nơi làm tổ thích hợp, bị quấy nhiễu và có thể do nguồn thức ăn bị nhiễm chất độc hoá học trong chiến tranh còn tồn dư ở nơi chúng kiếm ăn.
 
Phân hạng: VU A1c,e C2a
 
Biện pháp bảo vệ:
Quy hoạch hợp lý các vùng đất ngập nước là nơi kiếm ăn của loài này như ở vùng đồng bằng Nam Bộ. Sách Đỏ Việt Nam (1992, 2000), bậc R (hiếm).
Sưu tầm Tien Nguyen
 

Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

Danh mục Chim trong sách đỏ động vật Việt Nam

Danh mục Chim trong sách đỏ động vật Việt Nam

1. Ác là Pica pica sericera gould, 1845 E
2. Bồ câu nâu Columba punicea (Blyth, 1842) T
3. Bồ câu Nicoba Caloenas nicobarica nicobarica (Linnaeus, 1758) T
4. Bồ nông chân xám Pelecanus philippensis Gmelin, 1789 R
5. Bói cá lớn Ceryle lugubris guttulata Stejneger, 1892 T

6. Bồng chanh rừng Alcedo hercules Laubmann, 1917 T
 7. Chim điên bụng trắng Sula leucogaster poltus (Forster, 1844) T

8. Chim yến hàng Collocalia fuciphaga germaini Oustalet, 1871 T
9. Chim yến núi Collocalia brevirostris innominata Hume, 1873 R
10. Cò Á châu Xenorhynchus asiaticus (Latham, 1790) E
11. Cò lạo Ấn Độ Mycteria leucocephala (Pennant, 1769) R
 12. Cò lạo xám Mycteria cinerea (Raffles, 1882) V
 13. Cò nhạn Anastomus oscitans (Boddaert, 1783) R
 14. Cò quăm cánh xanh Pseudibis davisoni (Hume, 1875) V
15. Cò quăm lớn Psendibis gigantea (Oustalet, 1877) E
 16. Cò thìa Platalea mino Temmink et Schlegel, 1849 R
 17. Công Pavo muticus imperator Delacour, 1949 E
18. Cu xanh Seimun Treron seinundi modestus (Delacour, 1926) R

19.Đuôi cụt bụng đỏ Pitta nympha Temminck et Schlegel, 1850 R
20. Đuôi cụt bụng vằn Pitta ellioti Oustalet, 1784 T
21. Đuôi cụt đầu đỏ Pitta cyanea willoughbyi Delacour, 1926 R
 22. Đuôi cụt nâu Pitta phayrei obscura Delacour, 1927
 22. Gõ kiến xanh đầu đỏ Picus rabieri (Oustalet, 1898) T
23. Hạc cổ trắng Ciconia episcopus (Bodaert, 1783)
24. Hồng hoàng Buceros bicornis Linnaeus, 1758
24. Khách đuôi cờ Temnurus temnurus Temminck, 1825
25. Khướu đầu đen Garrulax milleti Robinson et Klos, 1919 R
26. Khướu đầu đen má xám Garrulax yersini (Robinson et Kloss, 1919) R
27. Khướu đầu xám Garrulax vassali (Grant, 1906) T
28. Khướu đuôi đỏ Garrulax formosus greenwayi Delacour et Jabouille, 1930 R
29. Khướu mỏ dài Jabouillea danjoui (Robinson et Klos, 1919) T
30. Khướu mỏ dẹt lưng đen Paradoxornis davidianus tonkinensis (Delacour, 1927) T
31. Khướu mỏ dẹt to Paradoxornis ruficeps magnirostris (Delacour, 1927) T
32. Khướu ngực đốm Garrulax merulinus R
33. Khướu vẩy Garrulax squamatus (Gould, 1835 ) R
34. Khướu xám Garrulax maesi maesi (Oustalet, 1890)
35. Mi Langbian Crocias langbianis (Goldenstolpe, 1939)
36. Mòng bể mỏ đen Larus saundersi, 1871
37. Nhàn đầu xám Anous stolidus pileatus (Scopoli, 1786) T
Nhàn mào Sterna bergii cristata Stephens, 1826
Niệc cổ hung Aceros nipalensis (Hodgson, 1829) E
Niệc đầu trắng Berennicornis comatus (Raffles, 1822) E
Niệc mỏ vằn Rhyticeros undulatus ticehursti (Deignan, 1914) T
Niệc nâu Ptilolaemus tickelli indochinensis (Delacour et Jabouille, 1927)
Ô tác Eupodotis bengalensis blandini Delacour, 1928 V
Phướn đất Carpococcyx renauldi (Oustalet, 1896) T
Phướn đất Carpococcyx renauldi
Quạ khoang Corvus torquatus Lesson 1831
Sả hung Halcyon coromando coromando (Latham, 1790) R
Sả mỏ rộng Pelargopsis capensis burmanica (Sharp, 1870)
Sẻ thông họng vàng Carduelis monguilloti (Delacour, 1927) T
Sếu cổ trụi Grus antigone sharpii Blanfordii, 1929
Trĩ đỏ Phasianus colchicus Linnaeus, 1758 R
Trĩ sao Rheinartia ocellata ocellata (Elliot, 1871)
Trèo cây lưng đen Sitta formosa Blyth, 1843 T
Trèo cây mỏ vàng Sitta solangiae. (Delacour et Jabouille, 1930)
Trèo cây mỏ vàng Sitta solangia
Vạc hoa Gorsachius magnificus (Ogilvie Grant, 1899)

Nhiều loài chim trong sách đỏ tụ về Bạc Liêu

Nhiều loài chim quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam đã về Vườn chim Bạc Liêu sống và sinh sản.

Ông Nguyễn Trung Chánh, giám đốc Ban quản lý vườn chim Bạc Liêu cho biết, những loài tìm đến đây phần lớn là chim điên điển, chim giang sen, cò lạo Ấn Độ, cò đuôi cụt, bụng đỏ, cò sả hung, đặc biệt là loài chim bồ nông chân xám và diệc Xumatra.
Hiện có khoảng 15 con chim bồ nông sinh sống trong vườn chim, mỗi con nặng khoảng 3kg, sải cánh gần 2m.
Vườn chim Bạc Liêu có diện tích 130 ha, quần thể chim, cò hoang dã có 79 loài, với khoảng 60.000 cá thể cư trú thường xuyên.
Theo các chuyên gia cho biết, gần đây số lượng, chủng loại chim, cò quý hiếm về trú ngụ, sinh sản ngày một nhiều là ngoài nhờ hệ sinh thái, môi trường ở đây được cải thiện còn có vai trò hệ thực vật đặc trưng.
Ông Chánh cho biết thêm, mặc dù vườn chim Bạc Liêu nằm trong địa bàn thành phố, lượng dân cư đông đúc, nhưng nhờ được đầu tư đúng mức, khâu tổ chức quản lý, nuôi dưỡng phù hợp, đặc biệt là làm tốt công tác tuyên truyền, người dân sống ven vườn chim cam kết không vào săn bắn, cùng chung tay với ngành chức năng bảo vệ nên số chủng loại, lượng cá thể chim, cò ngày một tăng lên.

Sưu tầm bởi Đức Đoàn.

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2012

Đuôi cụt bụng đỏ

Giống như hầu hết các loài chim Đuôi cụt khác, Đuôi cụt bụng đỏ (Pitta nympha Temminck et Schlegel, 1850) cũng chủ yếu sinh sống tại các khu rừng nhiệt đới ẩm ướt, với thức ăn là sên, sâu bọ nhỏ, giun, côn trùng và các loài không xương sống khác. Chúng chủ yếu sống đơn độc, đẻ tới 6 trứng trong các tổ lớn hình cầu trên cây hay trong bụi rậm, hoặc đôi khi ngay trên mặt đất. Con trưởng thành của loài có đầu đen với dải lông màu hung vàng nhạt chạy từ trước mắt đến gáy, hai bên trán và đỉnh đầu nâu hung. Phần trên cơ thể có màu lục hồng, bao trên đuôi và một vệt ở cánh xanh da trời nhạt. Ở nước ta, Đuôi cụt bụng đỏ mới chỉ phát hiện ở Tam Đảo, vùng đèo Hải Vân và Vườn quốc gia Cát Tiên. Hiện nay do bị săn bắn nhiều nên số lượng của loài ngày càng suy giảm và được xếp ở bậc R (Hiếm) trong Sách đỏ IUCN.
Sưu tầm Tien Nguyen


200 chim quý trong sách đỏ thế giới đến ĐBSCL trú ngụ


Hơn nửa năm vắng bóng, từng đàn sếu đầu đỏ lại bay về Vườn Quốc gia Tràm Chim ở Đồng Tháp và đồng cỏ bàng ở Kiên Giang tìm thức ăn.
Chiều 9/2, lãnh đạo Vườn Quốc gia Tràm Chim ở huyện Tam Nông (Đồng Tháp) cho biết, nơi đây đang đón khoảng 100 con sếu đầu đỏ về trú ngụ, tìm thức ăn (sếu đầu đỏ là loài chim quý có tên trong Sách đỏ của Việt Nam và thế giới). Đây là tín hiệu vui cho những người làm công tác bảo tồn vùng đất ngập nước sắp được công nhận là khu Ramsar thứ tư của Việt Nam có tầm quan trọng quốc tế về sinh học và bảo tồn. 
Sếu đầu đỏ ở đồng cỏ bàng, huyện Giang Thành (Kiên Giang)
Theo quan sát của cán bộ Vườn Quốc gia Tràm Chim, sếu trú ngụ nhiều nhất ở khu A1 và A5. Trong đó có khá nhiều sếu vài tháng tuổi, nếu trú ngụ đến giữa năm nay đã đủ thời gian cho đàn sếu non này trưởng thành. Dự kiến trong vài ngày tới sếu đầu đỏ tiếp tục về với số lượng lên đến vài trăm con bởi nơi ăn ngủ của loài chim quý này tại Vườn quốc gia Tràm Chim này rất tốt, không bị con người xâm hại.
Chiều cùng ngày, ông Hà Trí Cao - điều phối viên Dự án Bảo tồn và khai thác bền vững đồng cỏ ở xã Phú Mỹ ở huyện Giang Thành (Kiên Giang) cho biết, sếu đầu đỏ cũng về đồng cỏ bàng với số lượng khoảng 100 con. Ban đêm, sếu vào khu vực rừng tràm để ngủ.
Suốt tuần qua những người bảo vệ sếu đầu đỏ khuyến cáo người dân trong vùng tránh gây tác động xấu đến môi trường của sếu.
Theo ông Hà Trí Cao, thời gian sếu đầu đỏ về đồng cỏ bàng năm nay trễ hơn năm ngoái khoảng hai tuần và dự kiến đến cuối tháng 5 mới bay đi.
Sưu tầm Tien Nguyen

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

GÕ KIẾN XANH ĐẦU ĐỎ

Tên Tiếng anh: Lesser Yellownape
Danh Pháp Khoa Học: Picus chlorolophus

Chim Gõ Kiến Xanh Cánh Đỏ Lesser Yellownape ( Picus chlorolophus), là một loài chim gõ kiến trên diện rộng và thường phổ biến ở vùng nhiệt đới miền nam châu Á từ Ấn Độ và Sri Lanka phía đông nam Trung Quốc và Sumatra.


Đây là một loài làm tổ trong một lỗ cây, và đẻ 2-4 trứng màu trắng. Cũng giống như chim gõ kiến khác, loài này có một cái mỏ thẳng, một cái đuôi cứng để hỗ trợ nó bám vào thân cây, móng cong móc "yoked" bàn chân, với hai ngón chân trỏ về phía trước, và hai phía sau. nó có cái lưỡi dài có thể được phóng ngược về phía trước để bắt côn trùng .
Đây là loài chim có chiều dài khoảng 27 cm . Nó là một hình dạng chim gõ kiến tiêu biểu. phần trên lưng của nó là màu xanh lá cây ngoài các gáy sáng có chùm lông (tufted) màu vàng. cổ và ngực có màu xanh và bụng là màu trắng, với các chấm mịn màu xanh lá cây. cuối thân và đuôi màu đen.

chim trống trưởng thành có đầu màu xanh lá cây với một họng trắng. nó có màu đỏ ở trên mắt , phía trên gáy, và sọc đỏ hai bên cánh. chim mái chỉ có một miếng vá màu đỏ trên lông tai. chim non là giống chim mái , nhưng mờ nhạt ( duller.) Các phân loài xảy ra ở bán đảo Ấn Độ có đầu màu xám.
Ở Việt Nam chim này sống ở vùng Nam và tây Nam, Tây nguyên. nó xếp trong bảng liệt kê các loài chim và phân loại theo mức độ cần được bảo vệ

Sưu tầm Tien Nguyen

Vẻ đẹp chim bói cá Việt Nam

Là một trong những nhóm chim cổ chiếm lĩnh hầu hết các vùng đất trên thế giới, chim bói cá ở Việt Nam có rất nhiều loài với màu lông biếc rực rỡ.
Có khoảng 90 loài chim bói cá trên toàn thế giới. Việt Nam phát hiện 12 loài. Trong đó có loài chim bí ẩn “Bồng chanh rừng Alcedo hercules” trên hình vẽ nằm trong Sách đỏ. Chúng sống ở Lai Châu, Lào Cai, Hà Tĩnh, Gia Lai. Phần trên cơ thể chim trưởng thành có nâu đen nhạt (mút lông xanh nhạt), giữa lưng và lông xanh da trời óng ánh. Hai bên cổ có vệt trắng. Má và tai đen nhạt có vệt xanh.
Sả mỏ rộng Halcyon capensis chụp tại khu vực quần đảo Bà Lụa, Kiên Giang, loài này rất hiếm gặp. Chúng sống định cư ở rừng dọc theo bờ sông, suối và ở độ cao 1.200m. Ngoài ra chúng còn ở khu vực đồng bằng, gần ao hồ, cửa sông ven biển và rừng ngập nước. Tại Việt Nam, sả mỏ rộng phân bố ở Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Kom Tum, Đồng Nai và Tây Ninh. 
Sả đầu nâu Halcyon smyrnensis chụp tại Vũng Tàu. Đây là loài chim bói cá nhưng ít ăn cá, chim thường kiếm ăn ở các vùng đất trống trải. Rắn, chuột, côn trùng là món ăn khoái khẩu của chúng. Ở Việt Nam, loài này xuất hiện ở khắp vùng từ đồng bằng đến miền núi nơi không cao quá 1.000m.
Bồng chanh tai xanh Alcedo meninting được phát hiện trong chuyến khảo sát đa dạng sinh học các loài chim tại Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông. 
Bồng chanh đỏ Ceyx erithacus - một đại diện của nhóm chim bói cá chuyên ăn côn trùng và sống lẩn khuất ở tầng thấp của các cánh rừng già. Chúng được phát hiện gần biên giới Việt Nam-Campuchia-tỉnh Bình Phước.
Bồng chanh thường Alcedo athis là loài chim bói cá duy nhất phổ biển khắp thế giới và cũng là loài chim thường gặp nhất ở nước ta

Sưu tầm Tien Nguyen

Hồng hoàng – ông bố số một của tự nhiên


Chim hồng hoàng hay phượng hoàng đất (Buceros bicornis) là thành viên to lớn nhất trong họ Bucerotidae. Ở Việt Nam, các loài chim thuộc họ hồng hoàng có bảy loại với tên địa phương là chim ba mỏ, niệc, cao cát...
Chiều dài từ đầu mỏ đến chót đuôi hồng hoàng có thể tới 95 - 120cn với sải cánh 1,8m và cân nặng 3 - 4kg, tuổi thọ đến 60 năm.
Chiều dài từ đầu mỏ đến chót đuôi hồng hoàng có thể tới 95 - 120cn với sải cánh 1,8m và cân nặng 3 - 4kg, tuổi thọ đến 60 năm.
Hồng hoàng là loài ăn tạp, thức ăn chủ yếu là các loại quả rừng. Nó cũng ăn cả các loài thú nhỏ, chim, thằn lằn, rắn và côn trùng. Hồng hoàng là loài chim duy nhất trong tự nhiên mà hai đốt sống cổ đầu tiên được hợp nhất với nhau nên cái mỏ có vẻ to lớn gồ ghề, chậm chạp ấy lại hoạt động rất mạnh mẽ và linh hoạt trong thực tế. Tại Việt Nam, hồng hoàng ăn được quả củ chi, một loại quả độc mà gần như không loài chim nào dám đụng tới.
Hồng hoàng là loài chim có đời sống một vợ một chồng. Chúng có đặc tính khi chọn được một bọng cây ưng ý là làm tổ nơi đó suốt đời. Cây chúng chọn làm tổ luôn cao lớn vào bậc nhất của cánh rừng đó. Bọng cây chúng chọn làm tổ luôn có hai tầng, một tầng đẻ trứng, còn tầng bên trên được tạo ra dọc theo thân cây để di chuyển vào đó khi có kẻ thù. Hàng năm chim dùng mỏ đục thêm cho rộng ra nên tổ của chúng như một ngôi nhà thật sự. Tiếng đục bên trong bọng cây của hồng hoàng nghe như tiếng đóng đinh vào tường, cách 100m còn nghe thấy! Trước khi đẻ và ấp trứng, chim mái từ bên trong, có sự giúp đỡ của chim trống ở bên ngoài bắt đầu làm nhiệm vụ đóng cửa ra vào tổ bằng một bức tường được làm bằng mùn vỏ cây, phân và bột trái cây trộn lẫn với chất dịch thải ra ở đường miệng kết dính lại. Sau khi làm xong, cửa ra vào chỉ còn một khoảng trống nhỏ để hàng ngày chim trống đưa thức ăn qua đó cho chim mái ở bên trong. Hồng hoàng thường đẻ hai trứng, thông thường nở một con non
Trong thời gian chim mái nằm trong bọng cây, chim trống phải làm nhiệm vụ đi tìm thức ăn về tổ mớm cho chim mái và chim con. Chim trống ăn hoa trái rừng vào bụng, mang về tổ lúc lắc đầu có chiếc mỏ dài để quả rừng từ bụng rơi ra đầu mỏ, sau đó chim trống đưa từng hạt vào tổ cho chim mái. Chính vì đặc điểm này, hồng hoàng trống được mệnh danh “ông bố số một trong tự nhiên”
Do đặc tính một đôi hồng hoàng chỉ làm tổ một nơi suốt đời nên những thợ săn chuyên nghiệp khi tìm được một tổ hồng hoàng trong rừng thì xem như tài sản riêng của họ. Họ biết chờ đến giai đoạn chim mái vừa thay lông thoát ra ngoài, chim trống chui vào bên trong tổ để ủ ấm chim non là leo lên dùng móc sắt đưa vào tổ để bắt chim trống.
Ở Việt Nam, hồng hoàng được xếp vào loại nghiêm cấm khai thác dưới mọi hình thức. Tuy nhiên do môi trường sống bị thay đổi, cơ quan chức năng không kiểm soát được những người săn bắt chuyên nghiệp, hiện tại số lượng hồng hoàng trong tự nhiên còn rất ít.
Tổ hồng hoàng ở độ cao 50m.
Chim trống đưa thức ăn vào bên trong tổ cho con mái.
Hồng hoàng là loài chim có đời sống một vợ một chồng.
Tại Việt Nam, hồng hoàng được xếp vào loại nghiêm cấm khai thác dưới mọi hình thức.

Sưu tầm Tien Nguyen

Cám tốt quyết định? Chim hay tố chất bản lĩnh? hay tay nuôi kinh nghiệm?

NẾU CẢM THẤY BÀI VIẾT CÓ ÍCH CHO BẠN VUI LÒNG CLICK QUẢNG CÁO ỦNG HỘ TRANG WEB => CẢM ƠN ĐÃ QUAN TÂM <= Hello anh em! lâu lắm rồi tôi...