Hiển thị các bài đăng có nhãn Chim Sáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chim Sáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Đùa với tử thần để săn chim sáo

Giá chim sáo tăng vọt bất ngờ nên nhiều người người đã bất chấp tính mạng, leo lên những vách, lèn đá dựng đứng, chênh vênh ở Nghệ An, để tìm bắt bằng được những chú chim non tội nghiệp đem bán. 
Những ngày đầu tháng 9, các vách lèn đá Vũ Kì ở xã Đồng Thành huyện Yên Thành ( Nghệ An) mọc rêu trơn tuột nhưng lũ trẻ chăn trâu vẫn leo lên để bắt chim.
Đang lăm le một tổ chim sáo ở mỏm đá phía tây của lèn, Hiểu, một cậu học trò lớp 7 cho biết: “Trước đây chúng em chỉ bắt chim sáo nuôi cho vui nhưng nay giá sáo cao từ 100 đến 150 ngàn đồng mỗi con nên mấy đứa bọn em bắt kiếm tiền mua sách vở, thỉnh thoảng lại có tiền đi lên huyện chơi game”.

Lèn đá Vũ Kì chênh vênh, cao ngất ở xã Đồng Thành huyện Yên Thành ( Nghệ An) nơi nhiều người liều mạng leo lên bắt sáo
Theo những cậu bé như Hiểu, nghề săn sáo không có gì vất vả nhưng phải “liều”. Để bắt được chim, lúc đầu người săn phải đứng dưới chân lèn rình xem sáo mẹ tha mồi đến chỗ nào, sau đó cứ việc leo lên.

“Kiêng kỵ nhất trong khi leo lèn là chỉ được nhìn lên, nếu nhìn xuống sẽ bị run tay, ngợp và rất dễ rơi xuống. Nếu đã rơi thì chỉ có nước bỏ xác trên lèn đá”, ông Muôn, năm nay hơn 60 tuổi, kể về kinh nghiệm leo lèn đá của mình.
Leo lèn đá không cẩn thận có thể gẫy chân gẫy tay, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng, song nhiều người bất chấp vì ham kiếm tiền. Ảnh: Hồng Nhung.
Leo lèn đá không cẩn thận có thể gẫy chân gẫy tay, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng, song nhiều người bất chấp vì ham kiếm tiền.

Theo ông, nghề này rất nguy hiểm, khi đã quyết leo lên bắt sáo thì chỉ biết giao tính mạng của mình cho số mệnh bởi “cấu tạo của lèn đá bất thường lắm, không lường được. Có rất nhiều tảng đá, to có, nhỏ có, chỉ gá một chút vào thân lèn nhìn chênh vênh như chực đổ xuống. Không may đưa tay bám vào những tảng ấy thì coi như tan xác. Có lần tui leo lèn Vũ Kì đến chỗ cao nhất đạp phải hòn đá nó tụt xuống, may nhanh tay bám chặt vào rễ cây xuyên đá không thì chết lâu rồi”, ông Muôn vừa cười vừa kể về những lần chết hụt của mình.

“Một nguyên tắc nữa của leo lèn bắt sáo là phải biết cách bám rễ cây. Nếu rễ cây không chắc thì coi như toi đời. Gặp phải rêu đá mới mưa, phải tránh đường tìm lối khác không thì trượt chân cũng 'tạch'". Dứt lời, ông vén ống tay áo, giơ bụng lên chỉ những vết sẹo và cười bảo: “nghề bắt sáo sưng đầu mẻ trán, gãy , tay chân là chuyện vặt. Chỉ riêng xã Đồng Thành từ trước đến nay đã có 3 người chết vì rơi từ lèn đá xuống. Còn người bị què tay, gãy chân thì nhiều”.

Nghề săn sáo ở đây đã có từ rất lâu. Ban đầu, người dân trèo lên lèn bắt chim non về nuôi bởi loài sáo vừa thông minh, hót hay lại có thể bắt chước được tiếng người. Dần dần về sau, nghề nuôi chim cảnh phát triển, những chú chim sáo ở lèn đá cũng ngày càng có giá và trở thành một nguồn thu nhập cho những người nông dân lam lũ.

Ông Muôn cho biết, mỗi mùa sáo đẻ bốn lứa từ tháng tư đến tháng chín âm lịch, mỗi lứa từ 3 đến 4 con. “Cách đây 4-6 năm tui bắt mỗi ngày được 50-60 con sáo non nhập cho các lái buôn sáo ở Hải Phòng, Hà Nội, Vinh. Hồi đó sáo còn rẻ chứ bây giờ trăm con sáo đã mua được xe máy rồi. Giá chim sáo ở quê hiện nay có giá từ 100 đến 150 nghìn đồng một con. Nghĩa là mỗi con sáo ngang giá 20 - 30 kg thóc, mỗi ngày bắt 3-4 con sáo là được hơn tạ thóc. Không có ai làm ruộng mà năng suất được như thế vì vậy mà người ta liều chết đi bắt sáo”, ông tâm sự.
Giá chim sáo cảnh cao nên nhiều người tìm cách bắt chúng, khiến cho loài này đang có nguy cơ bị tận diệt. Ảnh: Hồng Nhung.
Không chỉ là nghề chính của những đứa trẻ chăn trâu và những lão nông nhàn việc, lèn đá còn là địa chỉ lui tới của những thợ săn chuyên nghiệp.

Anh Nguyễn Văn Hà ở xã Kim Thành cho biết: “Cứ vào đầu mỗi mùa sáo đẻ là có vài ba người nói tiếng Nam Định đến đây. Họ mang theo dây thừng, dây bảo hiểm để leo lèn bắt sáo. Tôi thấy họ ngoắc dây đu người từ vách đá này sang vách đá khác nhìn mà thót tim. Đó là bắt sáo non. Còn sáo mẹ thì họ dùng lưới bẫy. Mỗi đêm họ cũng bắt được cả trăm con sáo mẹ. Sáo mẹ khó nuôi nhưng nghe bảo bây giờ chim sáo là đặc sản tốt hơn cả thịt rắn nên đắt lắm”.

Không chỉ các lèn đá ở huyện Yên Thành, những năm gần đây, nghề săn sáo còn lan rộng ra những huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, nơi có những lèn đá cao ngút như Anh Sơn, Con Cuông, Quỳ Hợp, Thanh Chương,... Mỗi ngày, hàng trăm con sáo non, sáo bố mẹ đã bị tóm khỏi những mỏm đá cao vút để phục vụ nhu cầu chơi chim cảnh và ăn thịt.

Nói về thứ nghề đang rộ lên này, một nhà giáo về hưu sống dưới chân Lèn Bốn của huyện Anh Sơn tâm sự: Trước đây chim sáo nhiều lắm, chúng đậu, kín cả cánh đồng, bắt sâu bọ châu chấu, quấn quýt xung quanh con người, đậu lên cả vai, lên nón thợ cày, giờ đây vì hám lợi mà con người tận diệt sáo. Khi họ mò đến tổ sáo, sáo bố, sáo mẹ hốt hoảng chao quanh kêu thảm thiết như van xin con người đừng bắt con cái của chúng".

“Sáo con bị bắt đi rồi mà 2, 3 ngày sau vẫn còn nghe tiếng kêu sầu thảm của sáo bố mẹ, đó là tiếng khóc của chúng. Sáo nuôi có sinh sản được đâu, cuối cùng chết rũ trong lồng. Với tốc độ tận bắt tận diệt như vậy, cộng với việc nổ mìn phá lèn, lấy đá, e rằng mai này loài sáo sẽ bị tuyệt chủng”, ông giáo già thở dài ngao ngán.
Sưu tầm Tien Nguyen

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

Phân loại chim sáo

Họ Sáo thuộc về siêu họ Muscicapoidea, cùng các loài chim như hoét (Turdidae), đớp ruồi (Muscicapidae) và sẻ bụi (phân họ Saxicolinae của họ Muscicapidae), cũng như hoét nước (Cinclidae) có họ hàng xa và họ họa mi đỏ và chim nhại (Mimidae). Họ cuối cùng này có lẽ là các họ hàng còn sinh tồn gần gũi nhất của họ Sturnidae và thay thế chỗ của chúng tại châu Mỹ, và có kiểu sống rất tương tự nhưng cô độc hơn. Về hình thái chúng cũng rất giống – các mẫu vật một phần nào đó có dạng bạch tạng trong họ Mimidae, từng bị gán nhãn sai như là có nguồn gốc Cựu thế giới, trong nhiều thập niên được cho là đại diện cho nhánh sáo đã tuyệt chủng (xem sáo Rodrigues để có thêm chi tiết).
Các loài chim bắt bét bò đôi khi cũng được đặt vào đây như một phân họ gọi là Buphaginae, nhưng các chứng cứ lại nghiêng về phía coi chúng là một họ do chúng là thành viêncơ sở hơn của nhóm Sturnidae-Mimidae, xuất phát từ sự mở rộng thời kỳ đầu vào châu Phi.
Thông thường chim dạng sáo được coi là một họ, như trong bài này. Một số tác giả, như Sibley & Monroe (1990)[2] đặt cả các loài chim dạng chim nhại vào trong họ này và hạ chim dạng sáo xuống cấp tông, gọi là Sturnini. Việc xếp đặt như vậy cũng được Zuccon và ctv. (2006) sử dụng. Tuy nhiên, việc gộp nhóm của Sibley & Monroe (bên cạnh việc để cấp phân họ trống không) là hơi thái quá do các hạn chế về mặt phương pháp trong các kỹ thuật lai ghép ADN-ADN của họ và phần lớn các sửa đổi được đề xuất của họ trong cấp bậc phân loại không được chấp nhận (chẳng hạn xem bộ Ciconiiformes). Việc gộp nhóm họ Sturnidae bao gồm tất cả này không cung cấp được thông tin liên quan tới địa sinh học và làm mơ hồ các khác biệt tiến hóa của cả 3 dòng dõi. Dù sao, việc thiết lập tên gọi hợp lệ cho nhánh bao gồm họ "liên-Sturnidae" của Sibley/Monroe có thể là đáng mong muốn để làm rõ nét sự tương phản của chúng với các dòng dõi chính khác trong siêu họ Muscicapoidea.
Chim dạng sáo có lẽ có nguồn gốc từ khu vực Đông Á, có thể là về phía tây nam Thái Bình Dương, với chứng cứ là hàng loạt các dòng dõi với các đặc trưng tồn tại trước khi có tổ tiên chung gần nhất của họ Sáo cũng sinh tồn ở đây. Việc mở rộng vào châu Phi dường như diễn ra muộn hơn, do phần lớn các dạng phái sinh được tìm thấy tại đây. Một kịch bản khác coi nguồn gốc châu Phi cho toàn bộ nhóm "chim dạng sáo" (chẳng hạn Zuccon và ctv. 2006), với chim bắt bét bò đại diện cho nhóm sinh vật cổ đại còn sót lại và chim dạng chim nhại đến Nam Mỹ. Điều này mâu thuẫn với sự phân bố tại Bắc Mỹ của phần lớn các nhóm cơ sở nhất trong họ Mimidae..
Do các mẫu hóa thạch chỉ có với các dạng gần đây (kỷ Đệ Tứ), nên sự rẽ nhánh đề xuất là khoảng Tiền Miocen (khoảng 25-20 Ma) cho các dòng dõi "chim dạng sáo" cần phải được coi là cực kỳ không chắc chắn. Tuy nhiên, dựa vào chứng cứ chung về nguồn gốc của phần lớn các họ thuộc phân bộ Passeri trong nửa đầu của thế Miocen thì điều này dường như cũng không quá xa từ dấu mốc này.
Các nghiên cứu gần đây  đã nhận dạng hai nhánh chính của họ này, trong đó nhánh thứ nhất tương ứng với "yểng/sáo không điển hình" nói chung có màu nâu xám, thường có sọc, hơi lớn cùng các dòng dõi khác chủ yếu là châu Á-Thái Bình Dương và nhánh thứ hai là các đơn vị phân loại thường có kích thước nhỏ hơn, đôi khi có các đặc trưng riêng khá rõ nét và chỉ có từ thời điểm phân nhánh trong cây tiến hóa, phổ biến tại châu Phi và Cổ Bắc giới, thường có lông màu ánh kim và một số loài có phần lông mặt bụng màu vàng nghệ. Bên trong nhánh thứ hai này là một nhánh nhỏ chứa các loài thông thường không có màu quá sáng, là nhóm chứa tổ hợp "sáo điển hình" của chi Sturnus.
Một điều thú vị là leo cây Philippine (Rhabdornis spp.), một chi chứa 3 loài chim tương tự như các loài đuôi cứng (họ Certhiidae) dường như là các thành viên có đặc trưng riêng khá cao của sự phân tỏa nguyên thủy hơn của họ Sturnidae. Trong khi điều này có vẻ như kỳ quặc khi mới nghe, nhưng vị trí của chúng luôn luôn có thể gây bất đồng. Ngoài ra,địa sinh học dường như loại bỏ mối quan hệ gần gũi của leo cây Philippine với chim đuôi cứng, do nhóm chim thứ hai này cũng như các họ hàng gần của chúng không sinh sống gần với khu vực Wallacea, mà chỉ có leo cây Philippine là vượt qua giới hạn này. Tuy nhiên, việc đưa chúng vào họ Sturnidae là không hoàn toàn dứt khoát và thậm chí chúng có thể là một họ riêng.
Trật tự các chi tuân theo cách sắp xếp truyền thống. Điều này dường như không hoàn toàn chính xác, chẳng hạn như Scissirostrum gần gũi với Aplonis hơn là với Gracula, cònAcridotheres thuộc về nhóm các chi tiến hóa xa nhất. Tuy nhiên, quá ít các đơn vị phân loại đã được nghiên cứu khi xét về mặt quan hệ tiến hóa của chúng và vì thế thay đổi trong chuỗi phát sinh loài cần phải chờ đợi thêm.
Bài phê bình chưa công bố của Lovette & Rubenstein[5] (thông cáo báo chí) hứa hẹn sẽ giải quyết được phần lớn các sự không chắc chắn (mặc dù không giải quyết được câu hỏi được mong chờ nhiều nhất là chi Sturnus sẽ được chia tách như thế nào). Cho đến khi nó được công bố thì danh sách dưới đây nên được coi là biện pháp sơ bộ.

Nhánh phương Đông-Australasia

Sáo Polynesia (Aplonis tabuensis), sinh sống trong khu vực từ quần đảo Solomon tớiTonga.
  • Chi Rhabdornis – Leo cây Philippine (3 loài; đặt vào đây cần sự xác nhận)
  • Chi Aplonis – Sáo Thái Bình Dương (khoảng 20 loài sinh tồn, 4-5 loài mới tuyệt chủng, trong đó có sáo xanh)
  • Chi Mino – Sáo dạng yểng
    • Sáo mặt vàng, Mino dumontii
    • Sáo vàng kim, Mino anais
    • Sáo đuôi dàiMino kreffti
  • Chi Basilornis – Sáo dạng yểng
    • Sáo Sulawesi, Basilornis celebensis
    • Sáo đội mũ, Basilornis galeatus
    • Sáo mào dài, Basilornis corythaix
    • Sáo Apo, Basilornis mirandus
YểngGracula sp.
  • Chi Sarcops
    • Sáo Coleto, Sarcops calvus
  • Chi Streptocitta – Sáo dạng yểng
    • Sáo cổ trắng, Streptocitta albicollis
    • Sáo mắt trần, Streptocitta albertinae
  • Chi Enodes– Sáo dạng yểng
  • Chi Scissirostrum– Sáo dạng yểng
    • Sáo mỏ sẻ, Scissirostrum dubium
  • Chi Ampeliceps – Sáo (dạng yểng) [ngực] vàng
  • Chi Gracula – Yểng (nhồng, cà cưỡng) (5 loài)

Nhánh nhiệt đới châu Phi-Cổ Bắc giớ

  • Chi Acridotheres – Sáo dạng yểng điển hình (8 loài, trong đó có sáo nâu, sáo đen, sáo mỏ vàng)
  • Chi Leucopsar – Sáo Bali
  • Chi Sturnia (thường gộp trong chi Sturnus)
    • Sáo lưng tía hay sáo Dauria, Sturnia sturnina
    • Sáo má hung, Sturnia philippensis
    • Sáo vai trắng, Sturnia sinensis
    • Sáo đầu trắng, Sturnia erythropygia
  • Chi Sturnus – Sáo điển hình (khoảng 12 loài sáo đá, sáo sậu, sáo hồng, cà cưỡng; bao gồm cả các chi [có lẽ hợp lệ] GracupicaPastor và Temenuchus; nhưng cận ngành khá cao)
  • Chi Creatophora – Sáo yếm
  • Chi Notopholia (đôi khi đặt trong Lamprotornis)
    • Sáo ngũ sắc bụng đenNotopholia corrusca
  • Chi Coccycolius – sáo ngũ sắc Iris hay sáo lục bảo (đôi khi đặt trong Lamprotornis)
Sáo ngũ sắc Cape (Lamprotornis nitens)
  • Chi Lamprotornis – sáo ngũ sắc điển hình (20 loài; tính đơn ngành cần sự xác nhận)
    • Sáo lớn, Lamprotornis superbus
  • Chi Cinnyricinclus
    • Sáo lưng tímCinnyricinclus leucogaster
  • Chi Poeoptera (trước đây là Pholia, đôi khi gộp trong Cinnyricinclus)
    • Sáo SharpePoeoptera sharpii
    • Sáo AbbottPoeoptera femoralis
  • Chi Saroglossa (có lẽ cận ngành)
    • Sáo cánh đốmSaroglossa spiloptera
    • Sáo Madagascar, Saroglossa aurata
  • Chi Spreo (cận ngành với Lamprotornis và có thể được gộp vào đó)
    • Sáo khoang châu Phi, Spreo bicolor
    • Sáo Fischer, Spreo fischeri
    • Sáo chỏm đầu trắng, Spreo albicapillus
  • Chi Compsarus
    • Sáo ngực vàng, Compsarus regius (đôi khi đặt trong Lamprotornis)
    • Sáo xám tro, Compsarus unicolor (đôi khi đặt trong Spreo)
  • Chi Onychognathus
    • Sáo cánh đỏ, Onychognathus morio
    • Sáo mỏ dài, Onychognathus tenuirostris
    • Sáo cánh hung, Onychognathus fulgidus
    • Sáo Waller, Onychognathus walleri
    • Sáo Somali, Onychognathus blythii
    • Sáo Socotra, Onychognathus frater
    • Sáo Tristram, Onychognathus tristramii
    • Sáo cánh nhạt, Onychognathus nabouroup
    • Sáo lông đầu cứng, Onychognathus salvadorii
    • Sáo mỏ trắng, Onychognathus albirostris
    • Sáo Neumann, Onychognathus neumanni
  • Chi Poeoptera
    • Sáo đuôi hẹp, Poeoptera lugubris
    • Sáo Stuhlmann, Poeoptera stuhlmanni
    • Sáo Kenrick, Poeoptera kenricki
  • Chi Grafisia
    • Sáo vòng cổ trắng, Grafisia torquata
  • Chi Speculipastor – Sáo ác là
  • Chi Neocichla
    • Sáo khướu, Neocichla gutturalis
Sưu tầm Tien Nguyen

Sáo đá xanh


Sáo đá xanh (danh pháp hai phần: Sturnus vulgaris) là một loài chim thuộc Họ Sáo. Đây là loài chim sáo đá có nguồn gốc ôn đới châu Âu và Tây Á. Nó cư trú ở miền nam và miền tây châu Âu và Tây Nam Á, trong khi quần thể đông bắc di chuyển về phía nam và phía tây trong mùa đông để các khu vực này, và cũng xa hơn về phía nam đến các khu vực nơi mà nó không giống ở Iberia và Bắc Phi. Nó cũng đã được du nhập vào Úc, Argentina, New Zealand, Bắc Mỹ, và Nam Phi.

Nó là một những loài chim quen thuộc nhất ở các vùng ôn đới. Nó có chiều dài 19-23 cm, với sải cánh dài 31-44 cm và trọng lượng 60-100 g, bộ lông đen bóng, che đậy màu tím hoặc màu xanh lá cây, với các đốm màu trắng. Con trống trưởng thành có phía dưới ít đốm hơn con mái trưởng thành. Lông cổ họng lâu dài và chùng hơn, và được sử dụng như là một tín hiệu trong biểu hiện. Chim non có màu nâu xám, và mùa đông đầu tiên của chúng giống như con trưởng thành mặc dù thường giữ lại một số đặc điểm lông lúc còn non màu nâu đặc biệt là trên đầu trong phần đầu của mùa đông. Cặp chân chắc, hơi đỏ hồng. Mỏ hình nón hẹp với một đầu nhọn, trong mùa hè, mỏ con mái màu vàng, và màu vàng với một cuống mỏ màu xám xanh ở con trống, trong khi vào mùa đông, và ở con non, mỏ có màu đen ở cả hai giới. Việc thay lông diễn ra mỗi năm một lần, vào cuối mùa hè sau khi kết thúc mùa sinh sản, lông tươi nổi bật nghiêng trắng (lông ngực) hoặc da bò (cánh và lông trở lại). Việc giảm các đốm trong mùa sinh sản được thực hiện bằng cách rụng bớt các lông đốm trắng. Chim sáo đá xanh đi chứ không phải là nhảy lò cò. Dáng bay khá mạnh mẽ và trực tiếp, chúng trông có hình tam giác, cánh và đuôi ngắn trong khi bay.
Bản quyền Tien Nguyen

Thông tin về chim sáo


Họ Sáo (danh pháp khoa học: Sturnidae) là một họ chim có kích thước từ nhỏ tới trung bình, thuộc bộ Sẻ. Tên gọi "Sturnidae" có nguồn gốc từ tiếng Latinh sturnus để chỉ chim sáo. Chim họ Sáo sinh sống tự nhiên trong khu vực Cựu thế giới, từ châu Âu, châu Á và châu Phi tới miền bắc Australia và các đảo trong khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương. Một vài loài châu Á và châu Âu đã được du nhập sang các khu vực đó cũng như vào Bắc Mỹ, Hawaii và New Zealand. Tên gọi phổ biến trong tiếng Việt cho các loài trong họ này là sáo và yểng (nhồng, cà cưỡng).
Sáo đá xanh
Chim họ Sáo có chân khỏe, đường bay khỏe và thẳng, và chúng thích sống thành bầy. Môi trường sinh sống ưa thích của chúng là vùng nông thôn tương đối thoáng, chúng ăn sâu bọ và quả. Một vài loài sống xung quanh nơi sinh sống của người và chúng là những loài chim thực sự ăn tạp. Nhiều loài tìm kiếm thức ăn bằng cách há mỏ sau khi thăm dò nó trong bụi cây rậm; thói quen này được gọi là "thăm dò mỏ há".

Bộ lông thường sẫm màu với ánh kim. Phần lớn các loài làm tổ trong các hốc, lỗ và đẻ các trứng màu xanh lam hay trắng.
Nhiều loài nguồn gốc châu Á, cụ thể là các loài lớn, được gọi là yểng hay sáo yểng, còn nhiều loài châu Phi gọi là sáo ngũ sắc do chúng có bộ lông óng ánh nhiều màu.

Loài có thân hình ngắn nhất là sáo Kenrick (Poeoptera kenricki) chỉ dài 15 cm (6 inch), nhưng loài nhẹ nhất lại là sáo Abbott (Poeoptera femoralis) chỉ nặng 34 gam (1,2 oz). Các loài chim sáo lớn nhất là sáo dạng yểng của chi Mino, đặc biệt là sáo mặt vàng (Mino dumontii) và sáo đuôi dài (Mino kreffti). Những loài sáo dạng yểng này có thể dài trên 30 cm (1 ft) và cân nặng trên 225 gam (8 oz).

Chim họ Sáo có sự xướng âm đa dạng và phức tạp, và người ta biết rằng chúng pha trộn các âm thanh từ môi trường quanh chúng vào giọng hót của mình, kể cả tiếng còi ô tô hay các kiểu giọng nói của con người. Những loài chim này có thể nhận biết được từng cá thể riêng lẻ nhờ giọng hót của chúng và hiện tại chúng là loại chim được dùng để nghiên cứu quá trình tiến hóa của tiếng nói của con người.
Sưu tầm Tien Nguyen

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

Sáo sậu


Sáo sậu (danh pháp khoa học: Sturnus) là một chi thuộc họ Sáo (Surnidae). Các loài trong chi này có thân nhỏ, lông thường màu đen hoặc đen xám, tím biếc hoặc xanh biếc, mỏ và chân màu vàng. Thức ăn của sáo sậu là các loại hạt thực vật và các loại côn trùng nhỏ. Chúng là loài chim ở đất và cây, kiếm ăn trên đất, làm tổ trong hốc cây hay khe đá. Chúng có giọng hót hay nên thường bị bắt để nuôi nhốt.


Họ Sáo (danh pháp khoa học: Sturnidae) là một họ chim có kích thước từ nhỏ tới trung bình, thuộc bộ Sẻ. Tên gọi "Sturnidae" có nguồn gốc từ tiếng Latinh sturnus để chỉ chim sáo. Chim họ Sáo sinh sống tự nhiên trong khu vực Cựu thế giới, từ châu Âu, châu Á và châu Phi tới miền bắc Australia và các đảo trong khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương. Một vài loài châu Á và châu Âu đã được du nhập sang các khu vực đó cũng như vào Bắc Mỹ, Hawaii và New Zealand. Tên gọi phổ biến trong tiếng Việt cho các loài trong họ này là sáo và yểng (nhồng, cà cưỡng).


Chim họ Sáo có chân khỏe, đường bay khỏe và thẳng, và chúng thích sống thành bầy. Môi trường sinh sống ưa thích của chúng là vùng nông thôn tương đối thoáng, chúng ăn sâu bọ và quả. Một vài loài sống xung quanh nơi sinh sống của người và chúng là những loài chim thực sự ăn tạp. Nhiều loài tìm kiếm thức ăn bằng cách há mỏ sau khi thăm dò nó trong bụi cây rậm; thói quen này được gọi là "thăm dò mỏ há".


Bộ lông thường sẫm màu với ánh kim. Phần lớn các loài làm tổ trong các hốc, lỗ và đẻ các trứng màu xanh lam hay trắng.


Nhiều loài nguồn gốc châu Á, cụ thể là các loài lớn, được gọi là yểng hay sáo yểng, còn nhiều loài châu Phi gọi là sáo ngũ sắc do chúng có bộ lông óng ánh nhiều màu.


Loài có thân hình ngắn nhất là sáo Kenrick (Poeoptera kenricki) chỉ dài 15 cm (6 inch), nhưng loài nhẹ nhất lại là sáo Abbott (Poeoptera femoralis) chỉ nặng 34 gam (1,2 oz). Các loài chim sáo lớn nhất là sáo dạng yểng của chi Mino, đặc biệt là sáo mặt vàng (Mino dumontii) và sáo đuôi dài (Mino kreffti). Những loài sáo dạng yểng này có thể dài trên 30 cm (1 ft) và cân nặng trên 225 gam (8 oz).

Chim họ Sáo có sự xướng âm đa dạng và phức tạp, và người ta biết rằng chúng pha trộn các âm thanh từ môi trường quanh chúng vào giọng hót của mình, kể cả tiếng còi ô tô hay các kiểu giọng nói của con người. Những loài chim này có thể nhận biết được từng cá thể riêng lẻ nhờ giọng hót của chúng và hiện tại chúng là loại chim được dùng để nghiên cứu quá trình tiến hóa của tiếng nói của con người.
Sưu tầm Tien Nguyen

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Nuôi chim sáo đúng kỹ thuật


Nếu con sáo của bạn còn nhỏ thì bạn hãy chăm sóc cẩn thận cho đến khi trưởng thành (lông vũ mọc đầy đủ và có mào trên đầu).
Lúc này bạn hãy chộn một ít ớt bột hoặc ớt tươi rã nhỏ vào thức ăn rồi cho sáo ăn ngày 2 lần. Nhớ là ban đầu cho ít một sau tăng dần cho đến khi sáo lột lưỡi xong.

Đến giai đoạn tập nói: Bạn nên đưa sáo vào khu vực yên tĩnh (tốt nhất là góc vườn), dùng một miếng vải đen che lồng lại, hằng ngày đến bữa cho sáo ăn thì tháo tấm vải ra và tập nói cho sáo khoảng 30 phút rồi mới cho ăn. Khi sáo ăn xong thì lại dùng miếng vải che lại. Lần cho ăn sau lại làm lại các thao tác như vậy (nhớ chỉ tập cho sáo nói từng câu ngắn một, nói được câu này rồi mới tập câu khác) như: xin chào cậu chủ, nhà có khách, em đói rồi,....

Lột Lưỡi
Lột lưỡi chim sáo là bóc bỏ lớp sừng cứng đệm phía dưới lưỡi của con chim ra. Lột ra vậy để lưỡi chim mềm hơn - dễ bắt chước phát âm hơn.
Khi banh mỏ con chim ra bạn sẽ thấy phần mặt trên lưỡi rất bình thường, đầu lưỡi có dôi ra một mẩu sừng nhọn, trong - như móng tay vậy. Lớp sừng cứng nằm phía mặt dưới lưỡi của con chim, bạn sẽ lột bỏ nó đi.

Cách lột lưỡi:
- Phải có 2 người. 1 người giữ chim rùi banh mỏ nó ra.
- 1 người lấy dấm, hoặc nước cốt chanh tươi bôi vào đầu lưỡi. Một lát là chóp lưỡi mềm ra. Lấy móng tay khều nhẹ, thật nhẹ là ra, có 1 chút ở đầu lưỡi thôi đấy nhé. Làm mạnh là chết chim liền.
- Học nói thì phải kiên trì, ngày nào cũng vậy vào 1 giờ nhất định chỉ cho học 1 câu ngắn: chào bác... sẽ nhanh có kết quả thôi...

Lưu ý:
Bóc lưỡi (cạy bỏ cái chỗ da dưới lưỡi) có thể giúp chim nói dễ hơn, rõ hơn, mặc dù không cần làm thế chim vẫn biết nói. Nếu làm bạn nên làm thận trọng vì chim sáo là giống nhớ dai, nó thấy bạn "làm ác" với nó một lần dễ sẽ sợ tới già và không nghe lời bạn nữa.

Cám tốt quyết định? Chim hay tố chất bản lĩnh? hay tay nuôi kinh nghiệm?

NẾU CẢM THẤY BÀI VIẾT CÓ ÍCH CHO BẠN VUI LÒNG CLICK QUẢNG CÁO ỦNG HỘ TRANG WEB => CẢM ƠN ĐÃ QUAN TÂM <= Hello anh em! lâu lắm rồi tôi...